Thiền Môn Nhật Tụng - Làng Mai
Tu học với tăng thân Thảnh Thơi
những kinh văn và kinh tụng
Kinh Sức Mạnh Quan Âm
(Phẩm Phổ Môn)
“Thế Tôn muôn vẻ đẹp Con xin hỏi lại Người Bồ Tát kia vì sao Tên là Quan Thế Âm?” Bậc diệu tướng từ tôn Trả lời Vô Tận Ý: “Vì hạnh nguyện Quan Âm Đáp ứng được muôn nơi. “Lời thề rộng như biển Vô lượng kiếp qua rồi Đã theo ngàn muôn Bụt Phát nguyện lớn thanh tịnh. “Ai nghe danh, thấy hình Mà tâm sanh chánh niệm Thì thoát khổ mọi cõi Đây nói sơ lược thôi. “Nếu có ai ác ý Xô vào hầm lửa lớn Niệm sức mạnh Quan Âm Hầm lửa biến hồ sen. “Đang trôi giạt đại dương Gặp nạn Rồng, Quỷ, Cá Niệm sức mạnh Quan Âm Sóng gió không nhận chìm. “Đứng chóp núi Tu Di Bị người ta xô ngã Niệm sức mạnh Quan Âm Như mặt trời trên không. “Bị người dữ đuổi chạy Rơi xuống núi Kim Cương Niệm sức mạnh Quan Âm Không hao một mảy lông. “Bị oán tặc vây hãm Cầm đao thương sát hại Niệm sức mạnh Quan Âm Oán tặc thấy thương tình. “Bị khổ nạn vua quan Sắp sửa bị gia hình Niệm sức mạnh Quan Âm Đao kiếm gãy từng khúc. “Nơi tù ngục xiềng xích Chân tay bị gông cùm Niệm sức mạnh Quan Âm Được tháo gỡ tự do. “Gặp thuốc độc, trù, ếm Nguy hại đến thân mình Niệm sức mạnh Quan Âm Người gây lại gánh chịu. “Gặp La Sát hung dữ Rồng độc và quỷ ác Niệm sức mạnh Quan Âm Hết dám làm hại ta. “Gặp ác thú vây quanh Nanh vuốt thật hãi hùng Niệm sức mạnh Quan Âm Đều vội vàng bỏ chạy. “Rắn độc và bò cạp Lửa khói un hơi độc Niệm sức mạnh Quan Âm Theo tiếng tự lui về. “Sấm sét, mây, điện, chớp Mưa đá tuôn xối xả Niệm sức mạnh Quan Âm Đều kịp thời tiêu tán. “Chúng sanh bị khốn ách Vô lượng khổ bức thân Trí lực mầu Quan Âm Cứu đời muôn vạn cách. “Trí phương tiện quảng đại Đầy đủ sức thần thông Mười phương trong các cõi Không đâu không hiện thân. “Những nẻo về xấu ác Địa ngục, quỷ, súc sinh Khổ sinh, lão, bệnh, tử Cũng từ từ dứt sạch. “Quán Chân, quán Thanh Tịnh Quán Trí Tuệ rộng lớn Quán Bi và quán Từ Thường nguyện, thường chiêm ngưỡng. “Quán Vô Cấu, Thanh Tịnh Mặt trời Tuệ phá ám Điều phục nạn, gió, lửa Chiếu sáng khắp thế gian. “Tâm Bi như sấm động Lòng Từ như mây hiền Pháp cam lộ mưa xuống Dập trừ lửa phiền não. “Nơi án tòa kiện tụng Chốn quân sự hãi hùng Niệm sức mạnh Quan Âm Oán thù đều tiêu tán. “Tiếng Nhiệm, tiếng Quan Âm Tiếng Phạm, tiếng Hải Triều Tiếng Vượt Thoát Tiếng Đời Hãy thường nên quán niệm. “Từng niệm không nghi ngờ Trong ách nạn khổ chết. Quan Âm là tịnh thánh Là nơi cần nương tựa. “Đầy đủ mọi công đức Mắt thương nhìn thế gian Biển Phước chứa vô cùng Nên ta cần đảnh lễ.” Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm (ba lần) (CCC) |
“Thế Tôn diệu tướng cụ, Ngã kim trùng vấn bỉ Phật tử hà nhân duyên, Danh vi Quán Thế Âm?” Cụ túc Diệu Tướng Tôn Kệ đáp Vô Tận Ý: “Nhữ thính Quán Âm hạnh, Thiện ứng chư phương sở, Hoằng thệ thâm như hải, Lịch kiếp bất tư nghị. Thị đa thiên ức Phật, Phát đại thanh tịnh nguyện. Ngã vị nhữ lược thuyết: Văn danh cập kiến thân, Tâm niệm bất không quá. Năng diệt chư hữu khổ. Giả sử hưng hại ý, Thôi lạc đại hỏa khanh. Niệm bỉ Quán Âm lực Hỏa khanh biến thành trì. Hoặc phiêu lưu cự hải, Long ngư chư quỷ nạn. Niệm bỉ Quán Âm lực, Ba lãng bất năng một. Hoặc tại Tu-di phong Vi nhân sở thôi đọa. Niệm bỉ Quán Âm lực, Như nhật hư không trụ. Hoặc bị ác nhân trục, Đọa lạc Kim cang sơn. Niệm bỉ Quán Âm lực, Bất năng tổn nhất mao. Hoặc bị oán tặc nhiễu, Các chấp đao gia hại. Niệm bỉ Quán Âm lực, Hàm tức khởi từ tâm. Hoặc tao vương nạn khổ, Lâm hình dục thọ chung, Niệm bỉ Quán Âm lực, Đao tầm đoạn đoạn hoại. Hoặc tù cấm già tỏa, Thủ túc bị sửu giới. Niệm bỉ Quán Âm lực, Thích nhiên đắc giải thoát. Chú trớ chư độc dược, Sở dục hại thân giả; Niệm bỉ Quán Âm lực, Hoàn trước ư bổn nhân. Hoặc ngộ ác La-sát, Độc long chư quỷ đẳng. Niệm bỉ Quán Âm lực, Thời tất bất cảm hại. Nhược ác thú vi nhiễu, Lợi nha trảo khả bố. Niệm bỉ Quán Âm lực, Tật tẩu vô biên phương. Ngoan xà cập phúc yết, Khí độc yên hỏa nhiên. Niệm bỉ Quán Âm lực, Tầm thanh tự hồi khứ. Vân lôi cổ xiết điện, Giáng bạc chú đại vũ. Niệm bỉ Quán Âm lực, Ứng thời đắc tiêu tán. Chúng sanh bị khổn ách, Vô lượng khổ bức thân. Quán Âm diệu trí lực, Năng cứu thế gian khổ. Cụ túc thần thông lực, Quảng tu trí phương tiện. Thập phương chư quốc độ, Vô sát bất hiện thân. Chủng chủng chư ác thú, Địa ngục, quỷ, súc sanh. Sanh, lão, bệnh, tử khổ, Dĩ tiệm tất linh diệt. Chân quán, Thanh tịnh quán, Quảng đại trí huệ quán, Bi quán cập Từ quán, Thường nguyện thường chiêm ngưỡng. Vô cấu thanh tịnh quang, Huệ nhật phá chư ám. Năng phục tai phong hỏa Phổ minh chiếu thế gian. Bi thể giới lôi chấn, Từ ý diệu đại vân, Chú cam lộ pháp vũ, Diệt trừ phiền não diệm. Tránh tụng kinh quan xứ, Bố úy quân trận trung, Niệm bỉ Quán Âm lực, Chúng oán tất thối tán. Diệu âm, quán thế âm, Phạm âm, hải triều âm, Thắng bỉ thế gian âm, Thị cố tu thường niệm. Niệm niệm vật sanh nghi. Quán Thế Âm tịnh thánh, Ư khổ não, tử ách, Năng vi tác y hỗ. Cụ nhất thiết công đức, Từ nhãn thị chúng sanh; Phước tụ hải vô lượng, Thị cố ưng đảnh lễ.” |
(Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn, tạng Kinh Đại Chánh, kinh thứ 262.)
Kinh Sức Mạnh Quan Âm: Ðây là phần trùng tụng của phẩm Phổ Môn, phẩm thứ 25 của kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dịch từ tạng Hán. Kinh Pháp Hoa này do thầy Cưu Ma La Thập dịch từ tiếng Phạn vào đầu thế kỷ thứ năm.
Ðây là kinh số 262 của tạng Ðại Chính. Thần lực của bồ tát Quán Thế Âm là do các pháp quán chiếu Chân quán, Thanh tịnh quán, Quảng đại trí tuệ quán, Bi quán và Từ quán mà có. Tất cả đều do khả năng lắng nghe mà thành tựu. Trì tụng kinh này không phải chỉ để cầu nguyện sức gia hộ của bồ tát mà còn để học hỏi về pháp lắng nghe và năm pháp quán chiếu ấy.
Kinh Sức Mạnh Quan Âm: Ðây là phần trùng tụng của phẩm Phổ Môn, phẩm thứ 25 của kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dịch từ tạng Hán. Kinh Pháp Hoa này do thầy Cưu Ma La Thập dịch từ tiếng Phạn vào đầu thế kỷ thứ năm.
Ðây là kinh số 262 của tạng Ðại Chính. Thần lực của bồ tát Quán Thế Âm là do các pháp quán chiếu Chân quán, Thanh tịnh quán, Quảng đại trí tuệ quán, Bi quán và Từ quán mà có. Tất cả đều do khả năng lắng nghe mà thành tựu. Trì tụng kinh này không phải chỉ để cầu nguyện sức gia hộ của bồ tát mà còn để học hỏi về pháp lắng nghe và năm pháp quán chiếu ấy.